Công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường tại Công ty Phân lân Nung chảy Văn Điển

Ngày cập nhật: 10-02-2013

Công ty Phân lân Nung chảy Văn Điển (trước đây là Nhà máy Phân lân Văn Điển) là doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập từ năm 1960 và đến năm 1963 chính thức đi vào hoạt động. Đến nay, sau hơn 20 năm đổi mới với nhiều biện pháp đồng bộ, công ty đã nâng công suất lên trên 400.000 tấn/năm.

Có thể nói, doanh nghiệp đã có những định hướng cụ thể về việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và các biện pháp quản lý nhằm đảm bảo ATVSLĐ, đảm bảo môi trường. Cụ thể là:

Thứ nhất, đã đưa ra trắc đồ lò cao phù hợp với công nghệ sản xuất phân lân nung chảy bằng nhiên liệu than antraxít nội địa. Nhờ đó, đã tăng năng suất lò lên gần 600%, định mức tiêu hao than giảm 67,7%; định mức tiêu hao điện giảm 67%, từ 145kWh/TSP (tấn sản phẩm) xuống 45kWh/TSP. Năng lực sản xuất của công ty hiện nay tăng 8,6 lần so với năm 1989, số người giảm 2/3 so với trước đây. Trong 10 năm áp dụng đã tiết kiệm được hơn 100.000 tấn than; 61 triệu kWh điện; giảm chi phí 253 tỷ đồng. Hiện nay, mỗi năm tiết kiệm được hàng tỷ đồng so với trước đây; mặt khác, đã giảm đáng kể nguồn gây ô nhiễm cho người lao động và môi trường.

Thứ hai, đã đưa ra hàng trăm giải pháp khoa học công nghệ xử lý môi trường. Về xử lý chất thải rắn và bụi ồn, công ty đã giải quyết, xử lý triệt để bằng giải pháp công nghệ rửa sạch toàn bộ nguyên liệu trước khi vào lò, thu hồi triệt để chất thải rắn, đóng bánh đưa 100% chất thải rắn vào làm nguyên liệu sản xuất phân lân nung chảy, triệt tiêu hoàn toàn phế thải rắn, giảm ô nhiễm môi trường, giảm định mức tiêu hao nguyên liệu từ 1,6 tấn/TSP xuống 1,25 tấn/TSP (giảm 21,8%). Tính trong 10 năm áp dụng các giải pháp khoa học đã tiết kiệm 287.000 tấn quặng mịn, làm lợi 51 tỷ đồng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng loại phân lân dạng hạt (ứng dụng công nghệ mới) để đỡ gây thất thoát phân bón do bay bụi, tăng hiệu quả sử dụng, không phải nghiền sản phẩm, giảm tiếng ồn, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân (Hiện nay lượng sản phẩm lân hạt không nghiền đã chiếm hơn 60%).

Mặt khác, đã nghiên cứu để đảm bảo yêu cầu chất lượng nước thải công nghiệp và tuần hoàn nước thải; lượng nước thải tuần hoàn 600 m3/h (5.256.000m3/năm), giảm 3 bơm giếng sâu khai thác nước ngầm; Thu hồi trên 3.500 tấn sản phẩm phân bón/năm, giảm chi phí trên 7 tỷ đồng/năm. Điều quan trọng nhất là tuần hoàn sử dụng lại nước thải, giảm tối đa lượng nước thải ra môi trường. Bước vào năm 2010, công ty đã lập kế hoạch 3 giai đoạn đầu tư máy móc thiết bị, tiến tới triệt tiêu nước thải vào quý 3 năm 2010, tiết kiệm nguồn tài nguyên nước ngầm cho đất nước.

Cùng với đó, tất cả các dây chuyền sản xuất đều có hệ thống xử lý khí thải, đảm bảo yêu cầu chất lượng khí thải. Tận dụng triệt để lượng nhiệt thoát ra khi xử lý, góp phần giảm định mức tiêu hao than và giảm các sự cố cho lò cao; sử dụng hệ thống hút khí đỉnh lò, xử lý triệt để lượng khí thải rò rỉ qua nắp chuông khi nạp liệu; hoặc hấp thụ tối đa các yếu tố độc hại trong khí thải, sử dụng lượng CO trong khí thải qua lò đốt CO, tận dụng nhiệt nung nóng không khí lên 350 độ trước khi cung cấp cho lò cao.


Do sản xuất phân bón có đặc thù là  môi trường ăn mòn hóa học và cơ học rất lớn, vì vậy công ty đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp khoa học công nghệ chống ăn mòn. Nhờ đó, nhiều thiết bị không phải thay thế, tiết kiệm mỗi năm hàng tỷ đồng và quan trọng hơn là chống xì hở thiết bị, đường ống, giảm ô nhiễm môi trường.


Điều đáng chú ý là Công ty Phân lân Nung chảy Văn Điển cũng đã tích cực phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học nông nghiệp để nghiên cứu sản xuất ra các loại phân bón thân thiện với môi trường, chuyên dùng cho từng loại cây trồng và từng thời gian sinh trưởng của cây. Đồng thời, tập huấn cho bà con nông dân cách sử dụng phân bón hợp lý, đảm bảo sức khoẻ, bảo vệ đất, tiết kiệm chi phí, mang lại hiệu qủa cao. Đặc biệt tất cả các loại phân NPK đều sử dụng lân hạt đã góp phần cải thiện điều kiện cho công nhân (không phải nghiền đỡ ồn, đỡ bụi khi sản xuất và khi sử dụng).


Thứ ba, công ty đã liên tục đưa ra các biện pháp cơ giới hóa các công đoạn sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc, giảm số lao động làm việc trong những nơi nặng nhọc, đó là:


- Áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn, các biện pháp triệt để tiết kiệm năng lượng, áp dụng 5S, Kaizen trong doanh nghiệp.
- Lắp đặt các đường ống làm ẩm quặng, đá, than từ bãi và đường đi trong qúa trình xúc, vận chuyển, đập sàng không ô nhiễm môi trường.
- Lắp hệ thống băng tải chuyển bụi, phễu chứa bụi lò cao thay cho xe vận chuyển thủ công, giảm được hơn 20 lao động làm việc trong môi trường nặng nhọc.
- Lắp hệ thống máy ép bánh Apatít thay cho hàng trăm lao động đóng bánh bằng tay. Năm 2010, tiếp tục cơ giới hóa khâu vào liệu hệ thống ép quặng, giảm được bớt 6 lao động thủ công nặng nhọc.
- Cơ giới hóa khâu ra liệu xưởng sản xuất phân đa yếu tố NPK (lắp băng tải, phễu đóng bao), giảm gần 10 lao động, cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân.
- Lắp băng tải chuyển bao thành phẩm lân thay cho vận chuyển bằng xe cày thủ công, nặng nhọc, giảm được trên 20 lao động.
- Cơ giới hóa khâu đóng mở nắp chuyên lò cao thay cho việc quay bằng tay ở cả 3 lò cao, vừa giảm nặng nhọc cho công nhân vừa tiết kiệm được lao động.
- Đưa 18 máy nâng vào thay thế việc bốc xếp thủ công, đưa các máy xúc lật vào thay thế vận chuyển than bằng xe cải tiến thay cho hàng chục lao động.
- Bê tông gần 9ha mặt bằng giúp cải thiện việc đi lại và vận chuyển trong sản xuất cũng như giúp vệ sinh công nghiệp dễ dàng, dễ thu hồi nguyên liệu rơi vãi, đảm bảo môi trường.


Thứ tư, nghiên cứu các biện pháp quản lý nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người lao động với công tác ATVSLĐ, bảo vệ môi trường:
- Công ty đã lập hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại; đăng ký xả nước vào nguồn thải với Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.
- Xây dựng kế hoạch sản xuất kèm theo kế hoạch ATVSLĐ, bảo vệ môi trường với đầy đủ 5 nội dung. Việc đảm bảo ATVSLĐ, bảo vệ môi trường được coi là chỉ tiêu số 1 để đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch. Kế hoạch được cụ thể hóa và bổ sung hàng tháng, có theo dõi, tổng kết việc thực hiện, đánh giá kết quả và đưa vào bình xét thi đua làm cơ sở sở cho việc tính lương thưởng của tập thể và cá nhân. Kinh phí dành cho việc thực hiện kế hoạch ATVSLĐ đề ra và các việc phát sinh trong qúa trình sản xuất năm 2008 đạt 5,3 tỷ đồng, bằng 168% kế hoạch; năm 2009 đạt 6,3 tỷ đồng, bằng 119,2% kế hoạch. Năm 2010 kế hoạch cho công tác BHLĐ là 6,4 tỷ đồng .
- Xây dựng quy trình điều hành cho tất cả các công việc, theo đó, phải đảm bảo các bước: “Chuẩn bị - giao việc - hướng dẫn tạo điều kiện - kiểm tra - nghiệm thu đánh giá kết quả”.
- Gắn chặt công tác ATVSLĐ với việc tính lương thưởng. Thực hiện trả lương theo thông số công nghệ, trong đó đảm bảo ATVSLĐ và môi trường là chỉ tiêu hàng đầu, là chỉ tiêu chính để bình công chấm điểm hàng ngày, hàng tháng. Có thể nói, việc kiểm tra chấm điểm công tác BHLĐ dựa vào bình xét thi đua cho tập thể, cá nhân đã góp phần to lớn vào chấn chỉnh các nề nếp làm việc của công ty.
- Thực hiện xã hội hóa công tác ATVSLĐ và môi trường; phân chia mặt bằng nhà xưởng, kho tàng, bồn cây…cho các tập thể, cá nhân chịu trách nhiệm giữ gìn bảo quản sạch sẽ 24/24 (đảm bảo không một mét vuông nào trong công ty không có chủ). Việc này đã làm tăng ý thức trách nhiệm của tất cả mọi người trong việc giữ gìn nơi làm việc sạch sẽ để không phải vệ sinh, giảm được toàn bộ đội vệ sinh công nghiệp (khoảng 60-70 người) trước đây.


Thứ năm, thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, các chế độ, chính sách của Nhà nước, của địa phương:
- Nắm vững và thực hiện nghiêm túc những quy định của luật pháp, đặc biệt trong việc quan tâm chăm lo sức khoẻ cho người lao động, giải quyết các chế độ an toàn như chế độ làm việc nghỉ ngơi, kiểm tra khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, chế độ bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật, bữa ăn công nghiệp (mỗi công nhân trong một ca sản xuất được ăn 02 bữa cơm miễn phí), chế độ cấp phát BHLĐ, đóng bảo hiểm, đóng thuế môi trường,…


-  Làm tốt công tác đăng ký, kiểm định thiết bị nghiêm ngặt an toàn, quản lý hóa chất độc hại, công tác kiểm tra đôn đốc thực hiện, tổng kết và điều tra, khai báo tai nạn lao động, bệnh nghề, kiểm tra giám sát môi trường định kỳ.
- Làm tốt công tác giáo dục nhận thức cho cán bộ công nhân về môi trường, xây dựng và huấn luyện quy trình, quy phạm an toàn cho các ngành nghề.


Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ với công đoàn xây dựng mạng lưới an toàn viên, tổ chức tốt các phong trào thi đua đảm bảo ATVSLĐ, PCCN, đảm bảo môi trường như: Phong trào đăng ký xây dựng  nơi làm việc khoa học, an toàn, nơi ăn ở sạch đẹp, văn minh, gia đình văn hóa mới; Phong trào Xanh - Sạch - Đẹp. Hiện công ty có 10.500m2 bồn hoa, 4.500 cây xanh các loại. Riêng năm 2009, trồng mới gần 500 cây xanh;  Phong trào vì môi trường thủ đô, nữ công nhân viên chức đăng ký thực hiện và vận động gia đình không vứt rác ra đường và nơi công cộng; Hưởng ứng quy định của thủ đô 100% công nhân viên đăng ký không hút thuốc lá nơi làm việc; Hàng năm, hưởng ứng Tuần lễ quốc gia về ATVSLĐ-PCCN và Tuần lễ Quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường./.

 

Mỹ Hạnh

 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)