Hồ sơ quốc gia về An toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015

Ngày cập nhật: 23-09-2016

Ảnh minh họa

Hoạt động thông tin, tuyên truyền về AT,VSLĐ trong giai đoạn này đã có nhiều bước đổi mới đáng kể cả về nội dung, hình thức tuyên truyền; mở rộng hơn các nhóm đối tượng, chủ thể tuyên truyền trong các khu vực làng nghề, nông nghiệp, hợp tác xã, các đối tượng là học sinh, sinh viên trong các trường nghề; phối hợp, đan xen nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng tạo sự quan tâm, thu hút người xem, người nghe.

HỒ SƠ QUỐC GIA VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

 

PHẦN I

HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG

I. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ CHỈ ĐẠO LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC AT,VSLĐ Ở VIỆT NAM

1. Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về AT,VSLĐ

 

Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động là một chủ trương, chính sách lớn và nhất quán của Đảng ta từ khi thành lập đến nay, được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội và trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng. Giai đoạn 2010 - 2015 chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện ở các văn kiện và văn bản sau:

 

- Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ "Chăm lo bảo hộ lao động; cải thiện điều kiện làm việc; hạn chế tai nạn lao động"; "Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản và các chế độ, chính sách khác đối với lao động nữ".

 

- Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác AT,VSLĐ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Một số nhiệm vụ chính mà Chỉ thị đã nêu rõ là: (1) “Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức chủ động bảo đảm AT,VSLĐ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; ( 2): Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao hiểu biết, kỹ năng phòng ngừa tránh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo đảm vệ sinh lao động cho người lao động; (3) Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất, sử dụng trang thiết bị bảo đảm AT,VSLĐ, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động; (4) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về AT,VSLĐ. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về AT,VSLĐ phù hợp với các quy định, công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Nâng cao hiệu quả hoạt động, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức công đoàn, các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện AT,VSLĐ;  (5) Phát động phong trào quần chúng xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc. Đổi mới cơ chế, chính sách, đa dạng hóa nguồn lực xã hội trong thực hiện công tác AT,VSLĐ; (6) Đổi mới cơ chế, chính sách trong công tác AT,VSLĐ theo hướng ưu tiên cho các hoạt động phòng ngừa, quản lý rủi ro, làm rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đầu tư cho công tác AT,VSLĐ. Có cơ chế đầu tư cho các hoạt động cảnh báo, phòng ngừa, quản lý rủi ro, phục hồi chức năng cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”…

 

- Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy chỉ rõ: “...việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy là một tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, cơ quan, đơn vị, đoàn thể, hội viên, cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động”; “...Vận động cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động thấy rõ trách nhiệm, tự giác chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy;...”; “Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải lấy phòng ngừa là chính;...”.

 

2. Chương trình quốc gia về AT,VSLĐ giai đoạn 2011 - 2015

 

Mục tiêu của Chương trình:

 

- Trung bình hằng năm giảm 5% tần suất tai nạn lao động chết người trong các ngành, lĩnh vực khai khoáng, xây dựng, sử dụng điện, sản xuất kim loại và sản xuất hóa chất;

- Trung bình hằng năm tăng 5% số cơ sở tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, tăng 5% số người lao động được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, tăng 3% số cơ sở được giám sát môi trường lao động;

- Trung bình hằng năm tăng thêm 2.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý công tác AT,VSLĐ;

- Hằng năm trên 40.000 người làm các nghề, công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về AT,VSLĐ; 10.000 người làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 40.000 cán bộ làm công tác AT,VSLĐ tại doanh nghiệp được hỗ trợ huấn luyện về AT,VSLĐ;

- Đến năm 2015 có trên 1.000 làng nghề, 5.000 hợp tác xã, 30.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ được phổ biến thông tin phù hợp về AT,VSLĐ;

- 100% người lao động đã xác nhận bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng lao động;

- 100% số vụ tai nạn lao động chết người được điều tra, xử lý.

 

3. Các điều khoản liên quan đến AT,VSLĐ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia; các tuyên bố, kế hoạch của Chính phủ

 

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 đã nêu "Bảo đảm quan hệ lao động hài hòa; cải thiện môi trường và điều kiện lao động"; "Phát triển mạnh và đa dạng hệ thống bảo hiểm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp...”.

- Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” đề ra chỉ tiêu: “Những chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 gồm: ... tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường là 80%, áp dụng công nghệ sạch hơn 50%, ...” và đưa ra giải pháp thực hiện:.. “Khuyến khích và hỗ trợ kỹ thuật để người dân, cộng đồng triển khai và mở rộng quy mô các mô hình sản xuất và tiêu dùng tiết kiệm, an toàn, văn minh,..” và“...Hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính để hiện đại hóa hoạt động tái chế ở các làng nghề. Đến năm 2020, loại bỏ các công nghệ cũ lạc hậu, độc hại đối với sức khỏe người lao động và gây ô nhiễm môi trường ở các làng nghề tái chế”.

- Quyết định số 1635/QĐ-TTg ngày 22/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức đối với công tác phòng cháy, chữa cháy,...Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật về phòng cháy, chữa cháy,...Tập trung xây dựng phong trào toàn dân tham gia công tác phòng cháy, chữa cháy,...Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy,...”,...

- Công văn số 7307/VPCP-KGVX ngày 19/9/2014 của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc triển khai đánh giá và kiểm soát tác hại vật liệu Amiang trắng đến sức khỏe con người.

 

4. Các Công ước, khuyến nghị, tuyên bố quốc tế liên quan đến AT,VSLĐ đã được Quốc hội, Chính phủ phê chuẩn

 

Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn 21 Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế, trong đó có 3 Công ước trực tiếp về an toàn, vệ sinh lao động (Công ước số 155 về an toàn, vệ sinh lao động và môi trường làm việc, Công ước số 120 về vệ sinh trong thương mại và văn phòng, Công ước số 187 về cơ chế thúc đẩy an toàn, vệ sinh lao động) trong đó Công ước số 187 được Việt Nam phê chuẩn năm 2014 và đang xem xét phê chuẩn Công ước số 161 về Dịch vụ y tế lao động.

Các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế về an toàn, vệ sinh lao động cung cấp các công cụ thiết yếu cho các chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động để thiết lập nên những thông lệ và đảm bảo sự an toàn tối đa tại nơi làm việc.

Hầu hết các quy định trong các Công ước về AT,VSLĐ của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn đã được thực hiện và quy định trong Bộ luật Lao động, Luật An toàn vệ sinh lao động và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về công tác  AT,VSLĐ.

 

II. HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT, QUY CHUẨN VÀ TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT LIÊN QUAN ĐẾN AT,VSLĐ TỪ NĂM 2010 - 2015

 

1. Tổng quan về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và công tác xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật; xây dựng các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật về AT,VSLĐ

Giai đoạn này, các chính sách, hệ thống các văn bản pháp luật về AT,VSLĐ; các tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật  tiếp tục được rà soát, sửa đổi bổ sung, hoàn thiện với gần 20 Nghị định và hơn 70 Thông tư và hơn 70 tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật về AT,VSLĐ qui định, hướng dẫn về công tác AT,VSLĐ đã được ban hành (Danh mục các văn bản pháp luật mới được ban hành chi tiết tại Phụ lục 2, 3 của HSQG).

Một số văn bản điển  hình được ban hành trong giai đoạn này là:

- Hiến pháp năm 2013: Tiếp tục đề cao và khẳng định nguyên tắc nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người. Tại Điều 35, Hiến pháp năm 2013 của nước ta có ghi: Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.   

- Bộ Luật Lao động năm 2012:  Có hiệu lực từ ngày 01/5/2013 cũng tiếp tục khẳng định và quy định trong 1 chương riêng - Chương IX về an toàn, vệ sinh lao động và rải rác ở một số điều trong các chương khác. Tuy nhiên, trong Chương trình xây dựng, ban hành Luật, Pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII có  Chương trình xây dựng, ban hành Luật AT,VSLĐ, do vậy các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong BLLĐ được xác định chỉ quy định mang tính nguyên tắc, còn các quy định cụ thể, chi tiết sẽ được quy định trong Luật AT,VSLĐ.

-  Đặc biệt, năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã lần đầu tiên thông qua Luật An toàn, vệ sinh lao động tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII.  Luật An toàn, vệ sinh lao động có 7 chương, với 94 Điều với nhiều nội dung, chính sách mới đó là: Mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan đến AT,VSLĐ; mở rộng đối tượng áp dụng đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động; Mở rộng chế độ chính sách đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc; quy định việc tham gia bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện của người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động; quy định cụ thể quyền, trách nhiệm về an toàn, vệ sinh lao động của tổ chức công đoàn, Hội Nông dân Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của mặt trận và các tổ chức xã hội khác; qui định cụ thể và khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các biện pháp đánh giá, phòng ngừa rủi ro, cải thiện điều kiện lao động và xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc...

Các nội dung trong Luật An toàn, vệ sinh lao động được thiết kế với 3 nhóm chính sách chính là: Chính sách phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bao gồm: Chính sách thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, huấn luyện AT,VSLĐ; chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động. Chính sách giảm thiểu rủi ro bao gồm: Khai báo, thống kê, báo cáo, điều tra sự cố nghiêm trọng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp để có biện pháp khắc phục sự cố về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ người sử dụng lao động và chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Chính sách cho người lao động làm việc trong khu vực không có quan hệ lao động bao gồm: thông tin, tuyên truyền, tư vấn về AT,VSLĐ; chính sách hỗ trợ để huấn luyện AT,VSLĐ khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về AT,VSLĐ; trách nhiệm khai báo tai nạn lao động; khuyến khích tham gia chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo hình thức tự nguyện.

Đây là chính sách mới được bổ sung, phù hợp với quá trình phát triển thị trường lao động, Ủy ban đề nghị xây dựng một chương riêng quy định về Chính sách đối với người lao động ở khu vực không có quan hệ lao động nhằm hình thành môi trường làm việc an toàn cho người lao động ở khu vực này, bao gồm: chính sách thông tin, giáo dục, tuyên truyền, tư vấn về phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chính sách hỗ trợ huấn luyện khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về AT,VSLĐ và bắt buộc áp dụng quy chuẩn AT,VSLĐ đối với một số nghề, công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp...

   Đồng thời, nhiều Luật liên quan đến AT,VSLĐ cũng được sửa đổi, bổ sung như Luật Công đoàn năm 2012, Luật Xây dựng năm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Sửa đổi, bổ sung (năm 2013) một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, Luật sửa đổi, bổ sung (năm 2013) một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy.

Giai đoạn này, nhiều Tiêu chuẩn kỹ thuật, Quy chuẩn kỹ thuật AT,VSLĐ tiếp tục được sửa đổi, ban hành mới cho phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và do nhiều Tiêu chuẩn về AT,VSLĐ được ban hành trước đây đã lâu nay đã lạc hậu không còn phù hợp hoặc do xuất hiện nhiều ngành, nghề, công nghệ và vật liệu, thiết bị mới chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc Quy chuẩn kỹ thuật AT,VSLĐ tương ứng.

Trong các năm từ 2010-2015, Nhà nước bổ sung 5 bệnh nghề nghiệp mới vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm (bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân, nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp, bệnh bụi phổi - Talc nghề nghiệp bệnh bụi phổi Than nghề nghiệp) đưa danh mục bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm lên tổng số 30.

 

2. Đánh giá công tác xây dựng, ban hành văn bản pháp luật AT,VSLĐ

 

Giai đoạn 2010 - 2015, công tác xây dựng, ban hành văn bản pháp luật AT,VSLĐ giai đoạn này đã đạt được nhiều kết quả rõ rệt đó là việc ban hành được số lượng lớn các văn bản, các qui định hướng dẫn về AT,VSLĐ. Đặc biệt việc Luật AT,VSLĐ được ban hành đánh dấu một bước tiến lớn trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý trong công tác AT,VSLĐ, nâng cao tính thực thi và thể hiện quyết tâm, nỗ lực của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam trong công tác chăm lo, bảo vệ sức khỏe, sự an toàn và  tính mạng của người lao động. Các chính sách, văn bản giai đoạn này cũng đã tiếp cận với các Tiêu chuẩn lao động quốc tế, nhiều quy định trong các Công ước về AT,VSLĐ của ILO đã được nội luật hóa phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế; dự thảo văn bản được lấy ý kiến rộng rãi đối với đối tượng điều chỉnh và các cơ quan, các tổ chức liên quan và các chuyên gia.

 Các Bộ, ngành, đã xây dựng hàng trăm văn bản và bãi bỏ hiệu lực nhiều văn bản pháp luật về AT,VSLĐ. Hệ thống các văn bản pháp luật AT,VSLĐ được ban hành đã góp phần tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn và bảo đảm thực thi chế độ, chính sách về BHLĐ cho người lao động  phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là hệ thống các văn bản về quy chuẩn kỹ thuật an toàn lao động, kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa, bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, các quy định đối với nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ...

 

Xem chi tiết tại:

/Images/editor/files/Ho%20so%20quoc%20gia%20ve%20ATVSLD.doc

 

Việt Dũng

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)