Báo cáo nghiên cứu khả thi việc phê chuẩn Công ước số 187 về cơ chế tăng cường thực hiện An toàn vệ sinh lao động của ILO

Ngày cập nhật: 19-12-2012
Theo ước tính của ILO hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu chết do bệnh liên quan đến lao động.[1] Thiệt hại do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới.

1. Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới

Theo ước tính của ILO hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3 triệu chết do bệnh liên quan đến lao động.[1] Thiệt hại do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới. Ở một số nước có thu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do lao động. Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tương đương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động. Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻ trong lao động. 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xã hội loài người. Các nghiên cứu tình hình tai nạn lao động hàng năm trên thế giới cho thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất tai nạn lao động chết người là 30 - 43 người /100.000 lao động.[2]

Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115 triệu người lao động của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị tai nạn lao động (tai nạn lao động) hoặc bệnh nghề nghiệp (bệnh nghề nghiệp) hàng năm. Số người chết vì tai nạn lao động là hơn 8000 người/ năm. Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm. Ở Đức, điều kiện lao động xấu gây thiệt hại là 52 tỉ đê mác/năm. Ở Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp của Anh. Tại Hà Lan, chi phí cho bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động bằng khoảng 4% GNP.

Tại Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do tai nạn lao động và 153 người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nan lao động xảy ra trong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ.

Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động và việc tập trung mọi nỗ lực cho phát triển kinh tế bắt đầu từ thập kỉ sáu mươi của thế kỉ 20 đã đem đến cho khu vực một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống. Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứng dụng đã giải phóng sức lao động con người, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên do quá tập trung cho phát triển kinh tế và chưa coi trọng đến công tác an toàn - vệ sinh lao động nên số vụ tai nạn lao động, ốm đau, bệnh tật đã tăng nhanh. Tại hàng loạt nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật bản, ... tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đã có thể coi như “đại dịch ”.

Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)[3] cũng đã cho thấy, điều kiện lao động rủi ro, có hại đã góp phần gây ra sự hoành hành một số bệnh trên thế giới, cụ thể: 37% số người bị bệnh đau lưng, 16% số người bị tổn thương thính lực, 11% số người bị bệnh hen xuyễn, 10% số người bị thương tật, 9% số người bị ung thư và 2% số người bị bệnh bạch cầu; Ngoài ra, điều kiện lao động xấu cũng tác động không nhỏ đến cộng động xã hội, làm mỗi năm có thêm khoảng gần 310.000 người chết do bị những tổn thương liên quan đến lao động và 146.000 người chết vì bị bệnh ung thư liên quan đến lao động.

Điều đáng tiếc và quả thật là một thảm kịch vì phần lớn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đều có thể phòng ngừa được với các biện pháp thích hợp. Ngăn ngừa và phòng ngừa tai nạn lao động là vấn đề của việc tôn trong nhân phẩm con người thông qua chương trình làm việc bền vững, xây dựng và ban hành chính sách lấy con người làm trung tâm, chú trọng chính sách xã hội và phát triển bền vững.

Công ước 187 cùng với công ước 155 và các công ước khác có liên quan đến an toàn vệ sinh lao động đã xác định các yếu tố thiết yếu của một khuôn khổ pháp luật cho việc thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động và các chức năng cơ bản cho hệ thống quản lý

Công ước 187 cùng với công ước 155 và đã trở thành một công cụ sử dụng rộng rãi để phát triển tiêu chuẩn quốc gia và các chương trình ở cấp quốc gia và doanh nghiệp. Nhiều nước đã bắt đầu để thực hiện chúng thông qua một số cơ chế tự nguyện hoặc quy định và đã xây dựng chiến lược quốc gia tích hợp hệ thống quản lý phương pháp tiếp cận..

2. Công ước số 187 của ILO

Công ước 187 về Cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động, 2006 được các nước thành viên của Tổ chức Lao động thông qua ngày 15/6/2006 tại Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế nhằm mục đích: Tiếp tục cải thiện hệ thống quốc gia và thực hiện về an toàn vệ sinh lao động thông qua các chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh- Giải pháp tiếp cận hệ thống quản lý; Đưa vấn đề an toàn vệ sinh lao động là ưu tiên tại các chương trình nghị sự của quốc gia; Thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn và các công cụ của ILO về an toàn vệ sinh lao động; Thúc đẩy tiến trình phê chuẩn các công ước của ILO về an toàn lao động.

Việc thông qua công ước 187 xuất phát từ những nhận định sau:

1. Tính chất nghiêm trọng về thương tật lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động trên toàn cầu và mức độ cần thiết nhằm có những hành động hơn nữa để làm giảm thương tật lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động;

2. Việc bảo vệ người lao động trước những ốm đau, bệnh tật và tổn thương xảy ra do lao động là một trong những mục tiêu của Tổ chức Lao động quốc tế đã được ghi trong Hiến chương của mình;

3. Nhận thấy thương tật lao động, bệnh nghề nghiệp và tử vong do lao động có ảnh hưởng tiêu cực tới năng suất và sự phát triển kinh tế và xã hội, và

4. Tuyên bố Phi-la-den-phi quy định Tổ chức Lao động quốc tế có nghĩa vụ chính thức thúc đẩy các quốc gia trong các chương trình thế giới đạt đến sự bảo vệ thích đáng tính mạng và sức khoẻ người lao động trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp, và

5. Suy xét đến Tuyên bố của Tổ chức Lao động quốc tế về Các Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc và Sự tiếp tục của Tuyên bố, 1998, và Công ước An toàn và vệ sinh lao động, 1981 (số 155), Khuyến nghị về An toàn - vệ sinh lao động, 1981 và những văn kiện khác của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động, và

6. Việc tăng cường an toàn và vệ sinh lao động là một bộ phận của Chương trình Nghị sự việc làm bền vững cho tất cả mọi người của Tổ chức Lao động quốc tế;

7. Các kết luận về các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế liên quan đến các hoạt động trong lĩnh vực an toàn và vệ sinh lao động - chiến lược toàn cầu đã được Hội nghị Lao động Quốc tế thông qua tại phiên họp thứ 91 (2003), đặc biệt liên quan đến việc bảo đảm sự ưu tiên cho vấn đề an toàn và vệ sinh lao động trong các chương trình nghị sự của quốc gia;

8. Tầm quan trọng của việc không ngừng thúc đẩy văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa.

Công ước gồm 14 Điều tập trung vào những vấn đế chính sau: Chính sách quốc gia; Hệ thống quốc gia; Chương trình quốc gia về an toàn- vệ sinh lao động và hồ sơ quốc gia về an toàn vệ sinh lao động. Chính sách quốc gia tập trung vào việc thúc đẩy chính sách về an toàn vệ sinh lao động, luật pháp về an toàn vệ sinh lao động Điều 3 của công ước; Hệ thống an toàn vệ sinh lao động quốc gia bao gồm việc thúc đẩy vận động chính sách; luật pháp, thanh tra lao động, thúc đẩy dịch vụ an toàn vệ sinh lao động. Điều 4 của công ước; Chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh lao động tập trung vào việc thúc đẩy văn hoá an toàn, xúc tiến về thông tin, tư vấn, huấn luyện về an toàn lao động. Điều 5 của công ước; chính sách quốc gia về an toàn vệ sinh lao động phải được xây dựng, thực hiện, kiểm soát, đánh giá định kỳ và có sự tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện nhất và được công bố rộng rãi.

Tính đến ngày 12/4/2010 đã có 17 quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước số 187 trên tổng số 183 thành viên của ILO. Ở khu vực châu Á, Nhật Bản và Hàn quốc đã phê chuẩn Công ước này ngày 24/7/2007.

Công ước 187 có một vị trí quan trọng trong số các công ước liên quan đến an toàn vệ sinh lao động bên cạnh việc thúc đẩy những nỗ lực quốc gia trong việc cải thiện điều kiện lao động, công ước đưa ra một cách tiếp cận hệ thống, theo đó an toàn vệ sinh lao động được đưa vào nội dung ưu tiên nhất trong chương trình nghị sự quốc gia. Ngoài ra công ước 187 còn có thể sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ quản lý về an toàn vệ sinh lao động của quốc gia.'

Xem toàn bộ báo cáo, click tại đây

 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)