Dự án hỗ trợ thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về BHLĐ, ATLĐ, VSLĐ nhằm tăng cường an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc ở Việt Nam

Ngày cập nhật: 19-12-2012

Dự án nhằm góp phần xây dựng hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ và cải thiện công tác an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về Bảo hộ Lao động, An toàn lao động và vệ sinh lao động lần thứ nhất

Dự án nhằm góp phần xây dựng hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ và cải thiện công tác an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về Bảo hộ Lao động, An toàn lao động và vệ sinh lao động lần thứ nhất (sau đây gọi tắt là Chương trình quốc gia về ATVSLĐ) và hỗ trợ xây dựng Chương trình quốc gia ATVSLĐ lần hai cho giai đoạn bắt đầu từ năm 2011. Dự án cũng sẽ triển khai thực hiện ATVSLĐ tại khu vực kinh tế phi kết cấu, khu vực nông thôn và các doanh nghiệp lớn ở các tỉnh tham gia dự án theo phương thức thống nhất. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TBXH) sẽ phối hợp với Bộ Y tế và các bộ ngành khác có liên quan nhằm liên kết hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ với hệ thống y tế cộng đồng cùng hướng tới quy mô hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ ATVSLĐ. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sẽ hỗ trợ kỹ thuật cho phía Việt Nam và triển khai thử nghiệm chính sách Một Liên Hợp Quốc tại Việt Nam để thực hiện dự án này. Các văn kiện ATVSLĐ của ILO như Công ước về Khuôn khổ xúc tiến ATVSLĐ, Hướng dẫn của ILO về Hệ thống Quản lý ATVSLĐ (ILO-OSH 2001) và Chương trình WISE (Cải thiện điều kiện làm việc trong doanh nghiệp nhỏ) sẽ được áp dụng phù hợp trong quá trình thực hiện dự án.

Bảo đảm cho người lao động phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng như bảo đảm cho môi trường lao động được an toàn và bảo vệ được sức khoẻ người lao động luôn là mục tiêu quan trọng trong Chương trình quốc gia về việc làm bền vững (DWCP) tại Việt Nam. Theo báo cáo, tai nạn lao động có xu thế tăng nhanh từ 840 trường hợp năm 1995 lên 3.405 trường hợp năm 2000 và lên tới 6.026 trường hợp năm 2004. Tử vong do tai nạn lao động cũng tăng từ 264 trường hợp năm 1995 lên 406 trường hợp năm 2000 và lên tới 575 trường hợp năm 2004, những trường hợp báo cáo này chủ yếu xảy ra tại các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, còn rất nhiều những trường hợp tai nạn và tử vong tại nơi làm việc có quy mô nhỏ chưa được báo cáo.

Tăng cường công tác bảo đảm ATVSLĐ tại các doanh nghiệp nhỏ và các khu vực kinh tế phi kết cấu tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Nhiều nhà đầu tư và lao động tại các doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam đã và đang nhận thức được rằng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp không chỉ ảnh hưởng tới cuộc sống của người lao động mà còn ảnh hưởng tới năng suất và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như phúc lợi của toàn xã hội. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ, các khu vực kinh tế phi kết cấu hiếm khi nhận được sự hỗ trợ trong việc nâng cao công tác ATVSLĐ và cải thiện điều kiện lao động.

Việt Nam đang triển khai Chương trình quốc gia lần thứ nhất về Bảo hộ lao động, An toàn lao động, Vệ sinh lao động đến năm 2010, (gọi tắt là Chương trình quốc gia về ATVSLĐ). Chú trọng mở rộng công tác ATVSLĐ tại các doanh nghiệp nhỏ là một trong bảy dự án của Chương trình quốc gia về ATVSLĐ. Chương trình quốc gia về ATVSLĐ liên quan đến Công ước về Khuôn khổ xúc tiến ATVSLĐ (Số 187, 2006) được xây dựng với mục tiêu tăng cường hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ và đảm bảo công tác ATVSLĐ tại nơi làm việc. Bảy lĩnh vực hoạt động ưu tiên của Chương trình quốc gia về ATVSLĐ bao gồm: (1) Xây dựng năng lực quản lý Nhà nước về bảo hộ lao động, (2) Khai khoáng, xây dựng và sử dụng điện an toàn, (3) Nông nghiệp và lao động nông thôn, (4) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, (5) Phòng chống bệnh nghề nghiệp, (6) Thông tin, đào tạo và nâng cao nhận thức cộng đồng, và (7) Ứng dụng khoa học công nghệ.

Việt Nam đã tham gia Công ước về an toàn và vệ sinh lao động của ILO (Số 155, 1981) và cần phải thực hiện hiệu quả Công ước này. Các văn kiện về ATVSLĐ khác của ILO như Công ước về Khuôn khổ xúc tiến ATVSLĐ (Số 187, 2006), Công ước Dịch vụ sức khỏe lao động (Số 161, 1985) hoặc Hướng dẫn của ILO về Hệ thống quản lý ATVSLĐ (ILO – OSH 2001) là những hướng dẫn cụ thể để tăng cường hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ của Việt Nam.

Việt Nam cần phát triển cơ chế hợp tác liên Bộ mạnh mẽ hơn để thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về ATVSLĐ. Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế đều có khả năng phối hợp để phát triển các cơ chế bảo đảm ATVSLĐ trong các doanh nghiệp nhỏ cấp tỉnh. Bộ LĐ-TBXH đảm nhận vai trò tiếp cận với người sử dụng lao động và người lao động thông qua hệ thống quản lý lao động cấp tỉnh. Bộ Y tế có mạng lưới trung tâm y tế được tổ chức tốt, có thể cung cấp kịp thời các dịch vụ y tế lao động cơ bản khi được tập huấn phù hợp.

Chính sách Một Liên Hợp Quốc đã và đang được triển khai thông qua nhiều kế hoạch hoạt động phát triển của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam. Sự phối hợp giữa Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế về ATVSLĐ có những tiềm năng to lớn tạo ra những cơ hội mới để hiện thực hóa mục tiêu chính sách Một Liên hiệp Quốc. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đều đã có kinh nghiệm hợp tác với Bộ LĐTBXH và Bộ Y Tế. Bộ LĐTBXH đã hợp tác với ILO trong quá trình xây dựng Chương trình quốc gia về ATVSLĐ lần thứ nhất và mở rộng việc bảo đảm ATVSLĐ, với sự hỗ trợ của các tổ chức đại diện của người lao động và người sử dụng lao động trong khuôn khổ của Chương trình quốc gia về việc làm bền vững (DWCP). WHO đã đẩy mạnh các chương trình y tế cho người lao động thông qua hoạt động của các mạng lưới trung tâm y tế. Các sáng kiến hợp tác gần đây với ILO trong việc quan tâm đến những tác hại của amiăng đối với sức khoẻ người lao động sẽ là hình mẫu trong các hoạt động hợp tác giữa hai bên. Hỗ trợ kỹ thuật của ILO và của WHO đối với Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế sẽ là động lực thúc đẩy hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ của Việt Nam.

Trong khuôn khổ dự án, hệ thống dịch vụ ATVSLĐ và y tế công cộng hiện nay của Việt Nam sẽ cùng phối hợp nhằm tăng cường hiệu quả dịch vụ ATVSLĐ. ILO và WHO cùng hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình tiếp cận mới mẻ này. Kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động dịch vụ ATVSLĐ quốc tế, bao gồm cả kinh nghiệm của nước tài trợ dự án sẽ được trao đổi cùng với kinh nghiệm của Việt Nam. Các chương trình huấn luyện ATVSLĐ của ILO, trong đó bao gồm chương trình huấn luyện WISE cho các doanh nghiệp nhỏ, WISH (Cải thiện điều kiện lao động tại gia đình) cho các lao động thuộc các khu vực kinh tế phi kết cấu và WIND (Phát triển Tình làng nghĩa xóm để cải thiện điều kiện lao động) cho nông dân sẽ được triển khai rộng rãi.

Dự án này sẽ góp phần thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia ATVSLĐ lần thứ nhất, song song với xúc tiến gia nhập Công ước về Khuôn khổ xúc tiến ATVSLĐ của ILO (Số 187, 2006). ILO sẽ hỗ trợ Bộ LĐ-TBXH tăng cường hợp tác với các Bộ ngành khác để nhận xét, đánh giá tiến độ thực hiện Chương trình quốc gia về ATVSLĐ lần thứ nhất nhằm mục đích thực hiện tốt hơn. ILO và WHO sẽ cùng phối hợp để hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Đây là những nỗ lực hợp tác nhằm phát triển mạnh mẽ hơn nữa hệ thống quản lý nhà nước về ATVSLĐ để đảm bảo chất lượng công tác ATVSLĐ tại nơi làm việc. Các nước ASEAN sẽ cùng chia sẻ các kinh nghiệm và thành quả quý báu này.

Thông qua chương trình đa phương ILO/Nhật Bản và các chương trình khác, ILO đã có mối quan hệ hợp tác lâu dài với Việt Nam nhằm tăng cường năng lực ATVSLĐ từ Trung ương đến cơ sở trong phạm vi toàn quốc. Quan hệ hợp tác ILO/Việt Nam bao gồm: xây dựng Hồ sơ quốc gia và Chương trình quốc gia về ATVSLĐ, củng cố hệ thống thanh tra lao động, cải thiện năng lực chẩn đoán bệnh phổi nghề nghiệp, và mở rộng bảo đảm ATVSLĐ trong nông nghiệp thông qua việc sử dụng chương trình huấn luyện WIND (Phát triển Tình làng nghĩa xóm để cải thiện điều kiện lao động). Dự án hiện tại được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm hợp tác lâu dài giữa Việt Nam và ILO nhằm đảm bảo sự hoạt động thông suốt và hiệu quả.

1. Nhóm thụ hưởng và Đối tác

Nhóm thụ hưởng trực tiếp là các thanh tra viên và cán bộ ATVSLĐ các tỉnh tham gia dự án và của Cục An toàn lao động, Bộ LĐ-TBXH. Các Bộ liên quan sẽ cùng phối hợp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo đảm ATVSLĐ. Dự án hướng tới mục tiêu tăng cường năng lực ATVSLĐ và củng cố các mạng lưới tại cấp tỉnh cũng như hỗ trợ thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về ATVSLĐ. Các tổ chức đại diện của người lao động và người sử dụng lao động sẽ tham gia tích cực vào công tác này. Các đối tượng thụ hưởng của dự án bao gồm người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt là tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các khu vực kinh tế nông thôn và phi kết cấu. Họ sẽ cải thiện ATVSLĐ thông qua huấn luyện thực tế và chia sẻ thông tin trong khuôn khổ thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về ATVSLĐ.

2. Chiến lược Dự án

1. Hỗ trợ những nỗ lực của quốc gia để thực hiện Chương trình quốc gia về Bảo hộ Lao động, ATLĐ, VSLĐ đến năm 2010 (Chương trình quốc gia ATVSLĐ): Dự án đánh giá cao những sáng kiến của Việt Nam và sẽ hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện Chương trình quốc gia về ATVSLĐ, đã được xây dựng trên cơ sở tham khảo Công ước của ILO về Khuôn khổ xúc tiến ATVSLĐ (Công ước 187, 2006). ILO sẽ đóng vai trò tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia về ATVSLĐ.

2. Ứng dụng chuyên môn và các tổ chức kỹ thuật trong nước: Các hoạt động của dự án được xây dựng dựa trên chuyên môn và kinh nghiệm của quốc gia về ATVSLĐ trước đây. Các tổ chức kỹ thuật trong nước sẽ được sử dụng triệt để nhằm phát triển các biện pháp bảo đảm ATVSLĐ dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam. Huy động nguồn lực quốc gia để đảm bảo duy trì tính bền vững của kết quả dự án.

3. Đẩy mạnh hợp tác đa ngành và liên bộ: Dự án nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa Bộ LĐTBXH với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các bộ, ngành khác có liên quan. Sự hợp tác này nhằm mở rộng công tác bảo đảm ATVSLĐ đến các doanh nghiệp nhỏ và các khu vực kinh tế phi kết cấu.

4. Thực hiện chính sách Một Liên hợp quốc thông qua Hợp tác ILO-WHO: ILO sẽ hợp tác chặt chẽ với WHO để hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế. Dự án này bao gồm hai dự án song song, trong đó một dự án do Bộ Y tế thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO, một dự án do Bộ LĐTBXH thực hiện thông qua sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO. Hai dự án sẽ phối hợp tổ chức các cuộc hội thảo và tập huấn quốc gia để có tác động lớn hơn, được thực hiện theo tinh thần chính sách Một Liên hợp quốc.

5. Tăng cường phương pháp huấn luyện hướng vào hành động và tiếp cận thực tế: Dự án sẽ học tập các kinh nghiệm tốt của Việt Nam ở cả cấp quốc gia và cơ sở để tăng cường các hoạt động cải thiện thực tế. Các điển hình tốt về cải thiện điều kiện lao động đã thu thập được ở địa phương sẽ được sử dụng như là những mô hình thực tế để hỗ trợ các địa phương khác và củng cố chính sách quốc gia về ATVSLĐ.

6. Áp dụng các văn kiện của ILO: Các văn kiện chủ yếu về ATVSLĐ của ILO sẽ được áp dụng và giới thiệu rộng rãi. Công ước 187 (Khuôn khổ xúc tiến an toàn vệ sinh lao động) là văn kiện chính được đề cập đến trong quá trình thực hiện dự án. Các hướng dẫn của ILO về Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động (ILO – OSH 2001) sẽ được áp dụng để xây dựng văn bản hướng dẫn hệ thống quản lý ATVSLĐ quốc gia và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ tại cơ sở. Ba chương trình huấn luyện có sự tham gia của cộng đồng (WISE, WISH và WIND) sẽ được sử dụng để mở rộng việc bảo đảm ATVSLĐ đến các doanh nghiệp nhỏ, các tổ chức kinh tế phi kết cấu và nông nghiệp. Các Công ước ATVSLĐ khác của ILO bao gồm C. 181 (Thanh tra Lao động), C.155 (An toàn và Sức khỏe), C.161 (Dịch vụ y tế Lao động), C162 ( Chất Amiang), C167 (Xây dựng), C. 170 (Hóa chất), C. 174 (Tai nạn công nghiệp chính), C176 (Khai khoáng) và C184 (Nông nghiệp) cũng sẽ được đề cập tới trong quá trình thực hiện và xây dựng Chương trình quốc gia ATVSLĐ.

7. Xây dựng dự án trên cơ sở các thành quả và kinh nghiệm hợp tác Việt Nam – ILO: Dự án được xây dựng dựa trên thành quả và kinh nghiệm về ATVSLĐ giữa Việt Nam và ILO. Những thành quả và kinh nghiệm trước đó của các dự án ATVSLĐ ILO/Nhật Bản trong đó có hỗ trợ xây dựng Chương trình quốc gia ATVSLĐ, kiến thức huấn luyện có sự tham gia của cộng đồng cho các doanh nghiệp nhỏ và nông nghiệp sẽ làm nền tảng cho sự phát triển của dự án. Sử dụng kinh nghiệm, thành quả và các mạng lưới của dự án trong giai đoạn trước, dự án nhằm mục đích thực hiện một cách trôi chảy và có tác động lớn hơn.

8. Tăng cường hợp tác với các quốc gia thành viên mạng ATVSLĐ (ASEAN – OSHNET): Việt Nam là trung tâm đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Chương trình quốc gia về ATVSLĐ của ASEAN-OSHNET, các thành quả của dự án sẽ được chia sẻ với các quốc gia thành viên mạng ASEAN thông qua hội thảo và hội nghị. Các hoạt động của dự án sẽ được hướng đến sự phối hợp và hợp tác với ASEAN-OSHNET nhằm thực hiện hiệu quả và tăng cường mạng ATVSLĐ khu vực. Kết luận đã thông qua tại Hội thảo ASEAN-OSHNET về thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia ATVSLĐ, tổ chức tại Hà Nội vào tháng 05/2008 sẽ được triển khai trong quá trình thực hiện dự án.

 

 

XB – Mã số Dự án:

RAS/08/07M/JPN

Tên Dự án:

Hỗ trợ thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về Bảo hộ lao động, An toàn lao động, Vệ sinh lao động nhằm tăng cường an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc ở Việt Nam

Khu vực:

Châu Á - Thái Bình Dương

Nhà tài trợ

Chính phủ Nhật Bản

Quốc gia:

Việt Nam

Cơ quan điều hành:

Văn phòng ILO tại Việt Nam

Chuyên gia ILO:

Tsuyoshi Kawakami (kawakami@ilo.org): Chuyên gia cao cấp về an toàn vệ sinh lao động, Văn phòng ILO tiểu khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (SRO) - Bangkok

Các đơn vị/Phòng ban ILO cùng hợp tác:

Văn phòng ILO tại Việt Nam, RO-Bangkok, SRO-Bangkok, SAFE WORK, TRAVAIL, PROTRAV

Cơ quan thực hiện:

Cơ quan thực hiện chính:

  • Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA)

Các cơ quan phối hợp:

  • Bộ Y tế (MOH)
  • Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD)
  • Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
  • Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (VGCL)
  • Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA)
  • Hội Nông dân Việt Nam
  • Hội Phụ nữ Việt Nam

- Các tổ chức và ban ngành liên quan

Các tỉnh mục tiêu:

Thái Nguyên, Thanh Hoá, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai

Ngân sách:

891,156 USD (297,052 USD/năm)

Vốn đối ứng:

89,000 USD (đóng góp bằng hiện vật)

Thời gian:

03 năm (Tháng 01/2009 – Tháng 12/2011)

 

Tìm theo ngày

Đánh giá

(Di chuột vào ngôi sao để chọn điểm)